Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Đông về giữa tháng tư


(TGĐA) - Hồi còn ở trường đại học, thầy giáo dạy tiếng Đức của tôi bảo rằng: Ngạn ngữ Đức có câu “Chính tháng Tư cũng không biết nó muốn gì nữa”. Ý rằng ngay cả ở Đức thì thời tiết tháng Tư cũng rất thất thường. Tháng Tư xứ Việt thực ra còn là tháng Ba theo âm lịch. “Rét tháng Ba bà già chết cóng”. Vậy mà tháng Tư về đã ngỡ như hè. Nhà   máy sấy bát công nghiệp   nào nhà nấy vội vàng cất quần áo rét và chăn bông vào tít dưới đáy tủ. Một sáng dậy bỗng rét co ro, lại đành lôi ra. Bực không chịu được.

Thời tiết miền Bắc thì không chỉ tháng Tư mà tháng nào cũng vậy thôi, không biết đâu mà lần. Đông về giữa tháng Tư, mưa lũ   tủ nấu cơm công nghiệp   giữa mùa đông giá hay bỗng nhiên lại heo heo hanh hao mát lịm trong tuần Hạ. Dự báo thời tiết của Khí tượng thủy văn chạy theo cũng chẳng kịp. Thời tiết thế này rất giống nàng gái trẻ xinh đỏng đảnh ưa nhõng nhẽo, nay khóc mai cười, sáng lầm lì giận dỗi, chiều bỗng phấn chấn môi hồng. Và tất cả chúng ta bỗng hóa thành trai già mà yêu gái trẻ, ngơ ngác chẳng hiểu nàng ra làm   tủ sấy bát công nghiệp   sao, nhịn nàng như nhịn cơm sống, cố gắng chiều chuộng mà bị nàng làm cho đau cả đầu. Xứ này có lẽ không dành cho những người thần kinh yếu, những người mắc bệnh trầm uất theo mùa. Người có bệnh kinh niên về đường hô hấp sống ở miền Bắc không nổi, nhiều con bệnh chỉ vì những cơn hen suyễn trầm kha mà phải chuyển hẳn cả đại gia đình vào miền Nam di trú, bỏ cả quê hương bản quán.

Mũi   nồi cơm công nghiệp   tôi cũng có vấn đề, kinh niên, 15 năm nay thường xuyên phải mang theo một bình xịt bên người nếu như không muốn tức thở mà chết. Bác sĩ chỉ định phải phẫu thuật. Nhưng dạo lên cao nguyên Lệ Giang, ngày trước ngày sau là thở bình thường như... người thường. Khí hậu trên ấy lạnh, khô và   bếp gas công nghiệp   hanh, độ ẩm thấp, thời tiết ổn định, sống cả đời có lẽ không phải phẫu thuật cuống mũi. Giá nhà lại rẻ, vài trăm triệu là mua được căn chung cư hạng oách, hai tỷ đồng là có ngôi biệt thự yên tĩnh sau hàng rào đu đưa rặng trúc đào. Môi trường trong lành, ngày cưỡi ngựa trên thảo nguyên, tối về thành cổ ngồi bar uống cocktail nghe nhạc rock. Lúc ấy thoáng nghĩ đến chuyện... ở lại, nếu như không   quạt công nghiệp   có nỗi cô đơn cản trở. Ôi cái xứ chẳng phải của mình. Lại nhớ có lần đi công cán tận Vũ Di Sơn, nơi thâm sơn cùng cốc ở tỉnh Phúc Kiến, vậy mà cũng có vài trường đại học, giáo sư trường đại học được cấp phát mỗi người một căn biệt thự rộng vài trăm mét vuông trong khuôn viên trường. Ấy là chính sách neo giữ nhân tài của người Trung Quốc. Không thế giáo sư bỏ lên   bếp gas giovani   Bắc Kinh giảng bài hết, ai ở lại dãy núi chỉ dành để quay phim Tôn Ngộ Không làm gì. Thấy tôi đắm đuối ngắm những căn biệt thự xinh đẹp, anh trưởng phòng quan hệ quốc tế trường đại học Vũ Di Sơn bảo: Cô giáo ở lại đây dạy học đi, sẽ được một căn biệt thự như thế kia. Chợt giật mình kinh hồn nghĩ đến viễn cảnh ở lại chốn núi rừng, ăn món ca la thầu trường kỳ và thịt muối mặn chát, dù sống trong ngôi biệt thự xa hoa   bếp hồng ngoại   lộng lẫy, nhưng giữa nơi chẳng phải của mình.

Cứ hễ sáng nào (hiếm hoi) tôi phải dậy sớm và đi ra đường, lúc 6 giờ, khi trời còn lành lạnh, phía sau những tòa nhà cao tầng còn phủ sương mờ và thảng hoặc một người chở rau thồ ra chợ bán là lại chợt nhớ đến những buổi sáng nơi xứ người. Vì mỗi lần đi ra nước ngoài,   bếp gas canzy   dù là công tác, đi học hay đi du lịch, đều thường phải dậy sớm như thế này, để khởi hành đến một nơi nào khác. Giờ khắc ấy thật kỳ lạ. Luôn vắng vẻ, trong lành, bình yên và lạnh giá. Bình minh ở châu Âu thường sực nức mùi cà phê sáng, mở cửa phòng thấy cà phê thơm, đi hoài trên phố vẫn thấy hương cà phê vấn vít từ những ô cửa sổ. Bình   bếp gas fagor   minh trên cao nguyên lạnh cắt thịt, cái lạnh không mùi vị thổi về từ những rặng núi xa. Và một bận dậy sớm lúc 5h sáng để khởi hành từ khu Vương Phủ Tỉnh (Bắc Kinh) đi Vạn lý Trường thành, sau một đêm mất ngủ thấy mắt mơ hồ như sương khói, qua quảng trường Thiên An Môn rộng thênh chỉ thấy mờ thêm vì một lớp sương mỏng là là mặt đất, phủ kín những xe bánh bao sáng. Những lúc ấy tôi   quạt hơi nước   thấy mình nhỏ thó ở cái thành phố khổng lồ xa lạ này. Trên những con đường vắng bóng người, nhác thấy chiếc xe phóng vụt qua vội vã. Người ngồi bên trong cũng vội vã. Ai dậy sớm giờ này cũng đều vội cả. Những người vận chuyển rau củ quả ở một nhà kho sau khách sạn. Những cô nhân viên trẻ măng đứng sau quầy bánh ngọt. Những tài xế xe tải sau ca đêm vội vã trở về nhà. Và những người lữ hành   máy phát điện   đáp chuyến bay lỡ làng vừa vào đến thành phố. Tôi đoán nếu có hỏi bất cứ người nào trong số này một câu gì đó thì cũng không ai buồn trả lời. Dậy sớm giờ này đã là một nỗi khổ, ấy chỉ là vì miếng cơm manh áo chứ không phải để tập thể dục cho khỏe người.
Và cái cảm giác   tủ đông inox   cô đơn, lạnh giá thường ập đến vào mỗi sáng sớm trên xứ lạ. Lần nào cũng vậy. Thời khắc ấy, tôi hình dung những người hạnh phúc còn đang chui trong chăn ấm, chân duỗi dài đến mép chăn, rèm cửa khép tối om la đà trên những vuông cửa đóng chặt. Những ô cửa sổ đóng kín là pháo đài bất khả xâm phạm, là thế giới riêng của một cộng đồng không chung nền văn   Máy hút mùi   hóa, mà khi họ ồn ã đi lại trong những phố thị rực nắng hay một trung tâm thương mại sầm uất rực rỡ ánh đèn thì người khách lạ tạm quên đi điều đó.
Mỗi lần về nhà, lấy xe máy phóng vù ra chợ (mà tôi vẫn quen gọi là Trung tâm văn hóa văn minh Nghĩa Tân, hoặc Nghĩa Tân City), thấy chợ là nhà của mình, đường   máy sấy bát   sá đầy rác là nhà của mình, và thứ thời tiết tháng Tư như cô gái xốc nổi đáng ghét này cũng là nhà mình.
Bỗng có lần chợt nghĩ: Thế nào thì gọi là NHÀ (homeland)??? Thế nếu bây giờ tất cả những người đồng bào, những người hàng xóm, những người thân yêu nhất, bạn bè đồng nghiệp, cả độc giả quý mến nữa, chuyển hết sang Paris hay Kenya ráo cả.   Máy khử mùi   Còn ở đây chỉ rặt người da đen hoặc da trắng. Đến “Nghĩa Tân City” thấy những bà đầm lạ hoắc đang xách giỏ đi chợ. Vào quán bún cá Mai Hắc Đế nom lũ trẻ da đen xì xụp bữa sáng. Ngó trong tiệm cà phê Hàng Hành chỉ thấy những quý ông tóc vàng mắt xanh đang tán phét về một cô nàng bốc lửa. Ngước lên lưng chừng trời là những ô cửa sổ đóng kín câm   tủ sấy bát   lặng bất khả xâm phạm. Vẫn là những góc phố thân yêu tôi sống từng ngày, nhưng không còn bất kỳ ai thân quen nữa. Ngược lại, những người thân quen của tôi, những người nói cùng một ngôn ngữ lại sống kín hai bên bờ sông Seine với cái rét mùa đông không quen, cái nắng mùa hạ cũng xa lạ, hay rải rác xây nhà khắp rừng già “Safari World” tận xứ Kenya, đi   tủ nấu cơm   thăm nhau phải leo xe Jeep xuyên rừng. Vậy ở đâu mới là NHÀ của tôi?
Tưởng tượng thế thấy sợ.

Nhiều cô gái lấy chồng ngoại quốc, chuyển sang sống ở nước ngoài. Vì nơi nào có chồng họ, con họ, nơi ấy là nhà. Tôi thì không thể. May thay tôi không có   lò nướng   ông chồng làm ngành ngoại giao, hoặc làm cho các tổ chức đa quốc gia, rày đây mai đó mỗi nước dăm bảy năm.
Tôi nhớ bất kể lần nào, hễ đi xa về Hà Nội, nhìn thấy những con đường người xe lầm bụi trong mức báo động cấp 1 về ô nhiễm môi trường và ô nhiễm tiếng ồn, lại nghe lòng dậy lên âu yếm. Mới thấy làm sao nhiều cụ già con cháu thành đạt có biệt thự giữa lòng thành   tủ đông   phố, vậy mà nhất định không chịu rời túp lều tranh luộm thuộm ở quê xa để chuyển lên sống cùng con. Thậm chí quê nhà chẳng còn mấy ai, chồng/vợ cũng đã mất, ấy thế cứ cố neo mãi cái bếp làng. Nếu chẳng may làng của cụ toàn người lạ chuyển đến, thân quen chẳng có một người, chắc cực chẳng đã cụ cũng rời làng lên phố. Nhưng thế nào cũng nhớ lắm những gì quen thuộc xưa cũ, rồi cảm thấy sống   tủ mát   đến trót đời mà nơi đâu cũng không là NHÀ. Thế cũng khổ lòng.
Bụng nghĩ may, không mắc phải căn bệnh dị ứng thời tiết nan y đến mức bác sĩ kết luận: “Bệnh của cô chỉ có thể sống được ở cao nguyên Lệ Giang.”
- Còn nếu ở lại Hà Nội thì sao, thưa bác sĩ?
- Thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
DiLi
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét